Ban hành Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược đến năm 2030
Phân tích và dự báo về thị trường logistics, chuỗi cung ứng quốc tế và trong nước, độ tin cậy của lịch trình, tình hình hoạt động tại các cảng biển, cửa khẩu, thị trường giao nhận, chuyển phát, kho bãi, bất động sản, doanh nghiệp logistics mới nhất, VUI LÒNG TẢI TÀI LIỆU
--------------
Ngày 11/8/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã ký Quyết định số 139/QĐ-TTg ban hành Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược đến năm 2030.
Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược là một trong những nhiệm vụ trọng tâm tại Nghị quyết số 11/NQ-CP sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bám sát chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phát triển công nghệ chiến lược và ngoại giao phục vụ phát triển với ngoại giao công nghệ là trọng tâm, Chiến lược tập trung vào 6 nhóm giải pháp chính gồm:
(i) Tạo môi trường hợp tác thuận lợi;
(ii) Triển khai các cam kết thỏa thuận;
(iii) Nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ;
(iv) Nâng cao năng lực phát triển công nghệ;
(v) Hỗ trợ doanh nghiệp;
(vi) Tham mưu chính sách.
Chiến lược được kỳ vọng sẽ đóng góp thiết thực cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược phục vụ phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Trước đó, ngày 6/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Chương trình đặt mục tiêu làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi. Chương trình cũng hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, qua đó góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.
Trong giai đoạn 2026-2030, Chương trình đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế. Đồng thời, phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong Chương trình, hợp tác quốc tế được xác định phục vụ nghiên cứu, phát triển, làm chủ, chuyển giao và đồng phát triển công nghệ chiến lược; thu hút chuyên gia, tổ chức khoa học và công nghệ nước ngoài tham gia thực hiện nhiệm vụ. Chương trình cũng đề cập việc tăng cường tham gia hoạt động tiêu chuẩn hóa quốc tế và thừa nhận lẫn nhau về kết quả thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận đối với sản phẩm công nghệ chiến lược.
Việc ban hành Quyết định số 139/QĐ-TTg về Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược đến năm 2030, cùng với Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, tạo thêm cơ sở để triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế gắn với mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược.
Theo định hướng của Chiến lược, hợp tác quốc tế được kỳ vọng đóng góp thiết thực vào nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, phục vụ phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Nguồn: Tham khảo Quyết định số 139/QĐ-TTg ban hành Chiến lược hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược đến năm 2030 và Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.



