Những điểm mới mang tính đột phá của Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước
Phân tích và dự báo về thị trường logistics, chuỗi cung ứng quốc tế và trong nước, độ tin cậy của lịch trình, tình hình hoạt động tại các cảng biển, cửa khẩu, thị trường giao nhận, chuyển phát, kho bãi, bất động sản, doanh nghiệp logistics mới nhất, VUI LÒNG XEM TẠI ĐÂY
------------
Chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79 - NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước" do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị truyền đạt.
Sáng ngày 25/2, tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi, làm rõ những điểm mới mang tính đột phá của nghị quyết trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Những thành tựu và tồn tại của khu vực kinh tế Nhà nước
Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một Nghị quyết chuyên đề, làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này. Theo đó, kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh quốc phòng như: Đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập.
Nghị quyết khẳng định trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, dẫn dắt và điều tiết các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thông tin qua về những thành tựu của khu vực kinh tế Nhà nước sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm Đổi mới, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết: Tính đến năm 2025, cả nước có 671 doanh nghiệp nhà nước, dù chỉ chiếm 0,23% tổng số doanh nghiệp nhưng nắm giữ khối tài sản lên tới trên 4 triệu tỷ đồng (chưa tính doanh nghiệp nhà nước là các ngân hàng thương mại Nhà nước). Khu vực kinh tế Nhà nước có số thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025 ước đạt 9,4 triệu tỷ đồng, gấp 1,36 lần giai đoạn trước. Tỷ lệ huy động vào ngân sách bình quân đạt khoảng 18,3% GDP.
Khối các ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò chủ lực với tổng tài sản 9,36 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 50% thị phần tín dụng toàn hệ thống, hoạt động kinh doanh hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, kiểm soát tốt rủi ro, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách. Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) đã hỗ trợ hơn 6,8 triệu hộ còn dư nợ, góp phần quan trọng vào công cuộc giảm nghèo bền vững.
Tuy nhiên, khu vực kinh tế Nhà nước vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Hiệu quả chưa tương xứng với nguồn lực khi vẫn còn 20% doanh nghiệp nhà nước (134 đơn vị) bị lỗ lũy kế với tổng số lỗ 115.270 tỷ đồng. Một số dự án lớn chậm tiến độ, kém hiệu quả kéo dài chưa xử lý dứt điểm. Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ với hạ tầng giao thông vẫn là "điểm nghẽn", đường sắt và đường thủy chưa phát huy hết lợi thế; hạ tầng đô thị quá tải, tỷ lệ xử lý nước thải thấp (chỉ 15%); Cải cách doanh nghiệp nhà nước còn chậm khi tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn gần như "đóng băng" trong giai đoạn 2023-2025 do vướng mắc về đất đai và tâm lý sợ sai.
Về nguyên nhân, Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị khái quát những nguyên nhân như: Thể chế chưa đồng bộ, cùng với hệ thống pháp luật về đất đai, đấu thầu, tài sản công chồng chéo, tạo rào cản, điểm nghẽn, nút thắt cho sự chủ động của doanh nghiệp; tổ chức thực hiện và phối hợp vẫn là khâu yếu;
Việc quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực, tài sản nhà nước thiếu hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát và chưa thể hiện rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước;
Chưa tách bạch triệt để chức năng quản lý và chủ sở hữu vốn, cơ quan đại diện chủ sở hữu thiếu nguồn lực chuyên nghiệp, chưa hiệu quả, cụ thể như ở Trung ương dẫn đến phải chấm dứt hoạt động.
Quản trị lạc hậu, năng lực cán bộ chưa ngang tầm nhiệm vụ; năng lực đội ngũ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, tình trạng cán bộ e ngại trong việc ra quyết định đầu tư, thoái vốn làm chậm các kế hoạch cải cách, trong khi công tác thanh tra, giám sát chưa đáp ứng yêu cầu quản lý.
Năm quan điểm chỉ đạo mang tính đột phá
Trước bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế, đồng thời nhằm phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế nhà nước, góp phần hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước đến năm 2030 và năm 2045, Nghị quyết đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm và toàn diện về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới.
- Thứ nhất, đổi mới, bổ sung và cụ thể hóa nội hàm, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết đã kế thừa quan điểm các nghị quyết, kết luận trước đây về việc kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế. Đồng thời bổ sung, cụ thể hóa nội hàm, vai trò chủ đạo trên các mặt như: Định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng - an ninh, góp phần phát huy giá trị văn hóa, tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội, là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời, đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.
- Quan điểm thứ hai là xác định rõ mối quan hệ cùng phát triển giữa kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác nhằm phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của từng khu vực.
- Thứ ba là quan điểm về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước. Nghị quyết đề ra quan điểm mới về cơ chế phân bổ, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực kinh tế nhà nước, trong đó nhấn mạnh 2 điểm mới mang tính đột phá: Một là, các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế. Hai là, khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí các nguồn lực kinh tế nhà nước. Giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước, thị trường, xã hội, tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Quan điểm thứ tư là nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Kinh tế nhà nước phải tiên phong, kiến tạo, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
- Quan điểm thứ năm là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước, nhất là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước nêu trên, Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp đã xác định tại các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nguồn lực đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài sản kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập... đồng thời, tập trung triển khai mạnh mẽ, thực chất các nhiệm vụ, giải pháp sau đây:
Thứ nhất, nhóm nhiệm vụ và giải pháp chung:
Đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước;
Hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị;
Bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm;
Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch;
Xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.
Thứ hai, các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:
Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ giải pháp liên quan đến 7 lĩnh vực như: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, kinh tế biển, vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế không gian tầm thấp, không gian ngầm, tài nguyên số và tài nguyên viễn thông. Trong đó cần quán triệt và thực hiện một số nhiệm vụ giải pháp mới và trọng tâm. Đó là, ngay trong năm 2026, hoàn thiện công tác đo đạc, thống kê, số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác; xây dựng, ban hành Luật Đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý đất đai, khơi thông nguồn lực từ đất đai.
Ban hành cơ chế vượt trội và triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế không gian tầm thấp, công nghiệp hàng không, vũ trụ. Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên số, tài nguyên viễn thông để quản lý, phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu, đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia thực sự trở thành nguồn lực chiến lược.
Đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục sắp xếp, tinh gọn hệ thống quỹ, giảm đầu mối, tăng quy mô, không thành lập quỹ mới khi không cần thiết, sáp nhập, giải thể quỹ hoạt động kém hiệu quả, đẩy mạnh cơ chế ủy thác cho các tổ chức tài chính chuyên nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết đã đề ra 17 nhóm nhiệm vụ giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; Đổi mới nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại vốn nhà nước và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.
Nghị quyết đã định hướng rõ đầu tư phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế, như quốc phòng an ninh, năng lượng, vận tải, logistics, tài chính ngân hàng, khoa học công nghệ, điện tử viễn thông, hạ tầng số, khoáng sản chiến lược, hóa chất, xây dựng, v.v... Ban hành chính sách tạo động lực cho doanh nghiệp nhà nước tăng quy mô vốn điều lệ, bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất, cấp đủ tín dụng đối với các dự án, công trình trọng điểm quốc gia.
Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước đẩy mạnh, tiên phong trong hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư liên kết làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính. Có cơ chế cho phép hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm.
Đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ được giao, hạch toán, phản ánh đầy đủ lợi thế, các nguồn lực của nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế, hạch toán tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận.
Về thoái vốn nhà nước, cần quán triệt điểm mới của Nghị quyết là: Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì có cơ chế, lộ trình phù hợp nhằm sáp nhập vào các doanh nghiệp nhà nước hoặc chuyển giao cho các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vốn nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả, theo nguyên tắc "Nhà nước làm những gì tư nhân không làm hoặc không có khả năng làm, những gì tư nhân làm được thì Nhà nước phải làm tốt hơn". Các thương hiệu quốc gia có uy tín tiếp tục đầu tư để hoạt động hiệu quả hơn. Tái cơ cấu Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, hướng tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia.
Tổ chức sắp xếp lại mạng lưới ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước. Tăng vốn điều lệ cần xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động.
Nghị quyết nhấn mạnh chuyển các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao sang thực hiện cơ chế thị trường, mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công. Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong những ngành, lĩnh vực phù hợp.
Nguồn: Link gốc Báo Đầu tư
THÔNG TIN THAM KHẢO VỀ THỊ TRƯỜNG, NGÀNH HÀNG, LOGISTICS:


